Cấu Trúc Giải Phẫu Cây Phế Quản Cơ Bản, Hệ Thống Phế Quản

Hô hấp đóng vai trò thiết yếu cho sự tồn tại của con người, bằng việc đảm nhận nhiệm vụ trao đổi khí duy trì sự sống cho mọi tế bào trong cơ thể. Phế quản là một trong những thành phần quan trọng của hệ hô hấp. Vậy phế quản là gì? Phế quản nằm ở đâu? Cấu tạo và chức năng của phế quản ra sao? Hãy cùng bác sĩ Nguyễn Thanh Xuân tìm hiểu về hệ thống phế quản trong bài viết sau đây nhé!

Vị trí của phế quản

Hệ hô hấp người bao gồm hệ hô hấp trên và hệ hô hấp dưới. Trong đó, hệ hô hấp trên gồm có mũi, hầu, họng, xoang, thanh quản… có nhiệm vụ lấy không khí, lọc không khí trước khi đưa không khí xuống hệ hô hấp dưới. Và hệ hô hấp dưới gồm khí quản, phế quản, phế nang, màng phổi và phổi có nhiệm vụ dẫn khí, lọc khí và trao đổi khí.

Bạn đang xem: Giải phẫu cây phế quản

Minh họa đường hô hấp trên và dưới của cơ thể

Như vậy, phế quản là một ống dẫn khí thuộc hệ hô hấp dưới. Là phần tiếp nối phía dưới của khí quản, ở ngang mức đốt sống ngực 4, 5. Từ vị trí này tách thành phế quản gốc phải và phế quản gốc trái, sau đó đi vào hai lá phổi qua một vị trí mà chúng ta gọi là “rốn phổi”. Vị trí khí quản tách thành phế quản có tên là “ngã ba khí phế quản”.

Sau khi vào phổi, phế quản chính tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ dần hơn. Ngoài ra, sự phân chia cây phế quản cũng là cơ sở để phân chia các thùy của phổi.

Cấu trúc hệ thống phế quản

Cấu trúc chung

Như đã nói, phế quản được chia thành phế quản chính phải và phế quản chính trái. Hai phế quản chính tạo với nhau một góc 700. Phế quản gốc phải: dài khoảng 10 – 14 mm, đường kính khoảng 12 – 16 mm, số vòng sụn là 6 – 8. Phế quản gốc trái: dài khoảng 50 – 70 mm, đường kính khoảng 10 – 14 mm, số vòng sụn là 12 – 14. Ngoài ra, phế quản chính phải thường to hơn, ngắn hơn, dốc hơn nên thường dị vật lọt vào phổi phải.

Toàn bộ phế quản chính và sự phân chia của phế quản chính tới tận phế nang tạo nên hình ảnh cây phế quản. Sự phân chia có thể được hình dung ngắn gọn như sau:

Mỗi phế quản chính sau khi chui vào rốn phổi sẽ chia thành các phế quản thùy.Mỗi phế quản thùy dẫn khí cho một thùy phổi và lại chia thành các phế quản phân thùy dẫn khí cho một phân thùy phổi.Tiếp theo đó, mỗi phế quản phân thùy lại chia thành các phế quản hạ phân thùy.Các phế quản hạ phân thùy lại chia nhiều lần nữa cho tới tiểu phế quản à tiểu phế quản tận cùng à tiều phế quản hô hấp à ống phế nang à túi phế nang à phế nang. Tiểu thùy phổi là một đơn vị cơ sở của phổi. Nó bao gồm các tiểu phế quản hô hấp dẫn khí vào ống phế nang rồi vào túi phế nang và sau cùng là phế nang. Mặt phế nang có các mao mạch phổi để trao đổi khí giữa máu và không khí.Minh họa sự phân chia của phế quản cho đến tận phế nang

Cụ thể cây phế quản mỗi bên trái, phải như sau:

Phế quản chính P

(Chia làm 3 phế quản thùy: trên, giữa, dưới)

Phế quản chính T

(Chia làm 2 phế quản thùy: trên, dưới)

1. Phế quản thùy trên:

Dài khoảng 1 cm, tách vuông góc với phế quản gốc, chia thành 3 phế quản phân thùy:

Phế quản phân thùy đỉnh.Phế quản phân thùy sau.Phế quản phân thùy trước.

2. Phế quản thùy giữa

Dài khoảng 2 cm, chia thành 2 phế quản phân thùy.Phế quản phân thùy bên.Phế quản phân thùy giữa.

3. Phế quản thùy dưới

Chia thành 5 phế quản phân thùy:

Phế quản phân thùy trên.Phế quản phân thùy đáy giữa.Phế quản phân thùy đáy trước.Phế quản phân thùy đáy bên.Phế quản phân thùy đáy sau.

1. Phế quản thùy trên:

Dài khoảng 1.5 – 2 cm, tách thành 2 nhánh:

Nhánh trên: đi vào thùy đỉnh phổi trái và chia thành:

Phế quản phân thùy đỉnh sau.Phế quản phân thùy trước.

Nhánh dưới: đi vào thùy lưỡi phổi trái:

Phế quản phân thùy lưỡi trên.Phế quản phân thùy lười dưới.

2. Phế quản thùy dưới

Chia thành 5 phế quản phân thùy:

Phế quản phân thùy trên.Phế quản phân thùy đáy giữa.Phế quản phân thùy đáy trước.Phế quản phân thùy đáy bên.Phế quản phân thùy đáy sau.Minh họa cây phế quản của con người

Cấu tạo mô học của hệ thống phế quản

Hệ thống phế quản ở người là một hệ thống ống hình lăng trụ. Với cấu tạo không hoàn toàn giống nhau trong suốt chiều dài của cây phế quản. Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống cây phế quản đều có cấu tạo cơ bản gồm 4 lớp từ trong ra ngoài bao gồm: niêm mạc, lớp đệm, lớp cơ trơn, lớp sụn sợi.

Lớp niêm mạc

Lớp niêm mạc lót mặt trong phế quản, là lớp tế bào trụ giả tầng có lông chuyển và các tuyến khí quản. Không khí khi đi qua phế quản, bụi bẩn, vi khuẩn, virus gây bệnh sẽ bị các lông chuyển này giữ lại và đẩy ra ngoài thông qua phản xạ ho.

Lớp đệm

Đây là một lớp mô liên kết thưa.

Lớp cơ trơn

Hay còn được gọi là cơ Reissessen. Các cơ này có thể co giãn dưới tác dụng của hệ thần kinh tự động làm thay đổi khẩu kính của đường dẫn khí để điều hòa lượng không khí đi vào phổi. Trong đó, thần kinh giao cảm làm giãn cơ, thần kinh phó giao cảm làm co cơ. Khi lớp cơ trơn này co thắt sẽ gây cơn khó thở, có thể gặp trong bệnh hen suyễn.

Minh họa sự co thắt của cơ trơn đường thở

Lớp sụn sợi

Có vai trò tạo nên hình dạng ổn định cho phế quản, giúp đảm nhận tốt vai trò dẫn khí. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, lớp sụn sợi không còn hiện diện ở những tiểu phế quản hô hấp.

Chức năng của phế quản

Phế quản có hai chức năng chính là dẫn khí và bảo vệ phổi, các chức năng này được điều hòa bởi hệ thần kinh thực vật.

Vai trò dẫn khí

Phế quản là các ống dẫn khí từ bên ngoài cơ thể sau khi đi qua đường hô hấp trên (mũi, họng, thanh quản) để vào hai phổi. Thật vậy, sau khi có sự vận động của các cơ hô hấp, nhờ tính đàn hồi của phổi và lồng ngực, áp suất âm được gây ra trong phế nang sẽ làm khí đi vào phổi thông qua đường dẫn khí. Đường dẫn khí làm thông phế nang với bên ngoài. Nhưng chúng không phải chỉ là một ống dẫn khí đơn thuần mà còn đảm nhận nhiều chức năng quan trọng khác để bảo vệ sự hô hấp.

Đường dẫn khí chịu sự ảnh hưởng của Epinephrine và Norepinephrine lưu hành trong máu. Chúng được tiết ra mỗi khi hệ thần kinh giao cảm kích thích tuyến thượng thận. Cả 2 chất này, nhất là Epinephrine tác động lên thụ thể β2 gây ra hiện tượng giãn phế quản. Còn chất Acetylcholine khi bị kích thích bởi thần kinh phó giao cảm làm co thắt tiểu phế quản ở mức độ nhẹ gây tình trạng như hen phế quản

Vai trò bảo vệ phổi

Ngăn cản vật lạ vào đường hô hấp

Do có cấu tạo biểu mô trụ trên có các lông chuyển nên dễ dàng giữ lại những chất có hại cho cơ thể trước khi vào phế nang và đẩy chúng ra ngoài.

Chất tiết của phế quản có chứa immunoglobulin và các chất khác có tác dụng chống nhiễm khuẩn và giữ cho niêm mạc được bền vững

Làm ẩm không khí

Khí được làm ẩm để khí vào phổi được bão hòa hơi nước

Điều chỉnh nhiệt độ khí hít vào

Dù nhiệt độ khí hít vào rất nóng hay lạnh, khí vào đến phế nang cũng gần bằng nhiệt độ cơ thể. Vì vậy, hai chức năng làm ẩm và điều chỉnh nhiệt độ nhằm bảo vệ phế nang.

Xem thêm: Top 100 ảnh về cách phối áo vest sát nách dáng dài sát nách giá tốt t08/2023

Chức năng phát âm

Góp phần vào chức năng phát âm của thanh quản. Do luồng khí đi lên từ phổi qua phế quản, khí quản đến thanh môn làm cho hai dây thanh rung động và phát ra âm thanh.

Những lưu ý để bảo vệ sức khỏe đường hô hấp

Phế quản nói riêng và hệ hô hấp nói chung có thể coi là nguồn sống của toàn bộ tế bào trong cơ thể. Những bệnh lý liên quan đến hệ hô hấp rất thường gặp và lứa tuổi nào cũng có thể măc phải. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Vì thế, để phòng tránh các bệnh lí liên quan đến phế quản cũng như hệ hô hấp, bạn có thể lưu ý những vấn đề sau:

Giữ môi trường sạch sẽ

Giữ môi trường không khí trong nhà và nơi làm việc sạch sẽ, thoáng mát. Ánh sáng mặt trời cũng là một cách đơn giản giúp khử trùng cho môi trường không khí. Thường xuyên lau chùi nhà cửa, thay chăn nệm sạch sẽ.

Thói quen sinh hoạt lành mạnh

Tập thể dục đều đặn, phù hợp sức khỏe. Trong mùa đông, không nên đi tập quá sớm (trước 5 giờ sáng) và quá muộn (sau 21 giờ). Lưu ý luôn giữ ấm cơ thể vào mùa đông.Đảm bảo chế độ dinh dưỡng đủ năng lượng, cân đối để tăng cường sức mạnh cho hệ thống miễn dịch. Tăng cường rau xanh, trái cây tươi để bổ sung vitamin cho cơ thể.Uống đủ nước hàng ngày tránh làm khô đường hô hấp. Như vậy sẽ tối ưu cho chức năng bảo vệ đường hô hấp.Không hút thuốc lá, thuốc lào, xì gà.Tránh các thức ăn đã từng gây dị ứng. Với người đã bị dị ứng với phấn hoa, lông chó mèo, mạt bụi nhà, cần hạn chế tiếp xúc với các tác nhân trên. Hạn chế tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá.Duy trì thói quen tập thể dục để tăng cường sức khỏe

Xây dựng ý thức bảo vệ sức khỏe

Tiêm vắc xin phòng các bệnh đường hô hấp như cúm, phế cầu. Đặc biệt là những đối tượng nhạy cảm như trẻ em, người cao tuổi, những người mắc nhiều bệnh nền.Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt xì bằng khăn vải hoặc khăn giấyThường xuyên rửa tay bằng xà phòngNếu có dấu hiệu mắc bệnh hô hấp, người bệnh cần đi khám chuyên khoa hô hấp để có chỉ định điều trị cụ thể.Khi đi ngoài trời cần đeo khẩu trang để tránh các tác nhân gây bệnh. Bạn cũng cần chủ động cách ly với người đang mắc bệnh đường hô hấp.

Như vậy, chúng ta đã cùng tìm hiểu những thông tin thú vị về cấu tạo cũng như chức năng quan trọng của phế quản đối với cơ thể của chúng ta. Rõ ràng phế quản cũng như hệ thống hô hấp đóng vai trò thiết yếu trong sự tồn tại của con người. Do đó, bạn hãy cố gắng duy trì những thói quen tốt để bảo vệ đường hô hấp cũng như bảo vệ sức khỏe bản thân nhé!

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, là một cặp cơ quan xốp , chứa đầy không khí nằm ở 2 bên lồng ngực; có tính chất đàn hồi, xốp và mềm.

Phổi được bao bọc trong 1 thanh mạc gồm 2 lá được gọi là màng phổi. Mỗi người có 2 lá phổi và cấu tạo bởi các thùy. Lá phổi phải lớn hơn phổi trái. ở người trưởng thành phổi có thể chứa 4500 – 5000ml không khí

Hình thể ngoài

Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi

• Có ba mặt – hai bờ – một đỉnh.

– Mặt ngoài: lồi, áp vào thành ngực -> Có ấn xương sườn. Có rãnh chếch ở 2 bên bắt đầu từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau chạy xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thuỳ phổi.

Mặt các thuỳ phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thuỳ. Trên bề mặt phổi có các tiểu thuỳ phổi – đơn vị cơ sở của phổi.

Phổi phải có rãnh ngang nên phổi phải có ba thuỳ là thùy trên, thùy giữa và thùy dưới. Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ là thùy trên và thùy dưới

– Mặt trong ( Mặt trung thất): hơi lõm , gồm 2 phần :

+ Phần cột sống

+ Phần trung thất

Đặc điểm

+ giới hạn nên trung thất giữa

+ Rốn phổi có hình là chiếc vợt bóng bàn . Đây là nơi các thành phần cuống phổi đi qua , bao gồm ĐM phổi, phế quản chính , hai TM phổi, ĐM và TM phế quản , hạch bạch huyết , các dây thần kinh, có dây chằng tam giác.

+ Mặt trong phổi (P) có rãnh tĩnh mạch đơn, còn phổi (T) có rãnh động mạch chủ

+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

ở phổi phải : có một chỗ lõm gọi là ấn tim

ở phổi trái : ấn tim rất sâu nên gọi là hố tim , có khuyết tim

– Mặt hoành : ở phía dưới và nằm sát lên vòm hoành , qua vòm hoành với các tạng của ổ bụng, điển hình là gan

– Bờ trước : ranh giới giữa mặt sườn và mặt trung thất chùm lên trên màng ngoài tim

– Bờ dưới: bao lấy mặt hoành. Gồm 2 đoạn

+ Đoạn cong : ngăn cách mặt sườn và mặt hoành

+ Đoạn thẳng : ngăn cách mặt trong và mặt hoành

– Đỉnh phổi : Nhổ lên khỏi xương sườn 1 khoảng 3 cm

Hình thể trong

– Bao gồm cây phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết của phổi và thần kinh của phổi.

– Phế quản

Phế quản chính ( chui vào lỗ rốn phổi) -> phế quản thùy -> phế quản phân thùy -> phế quản hạ thùy-> Phế quản tiểu thùy ( tiểu thùy phổi là một đơn vị cơ sở của phổi)

Phế quản gồm một lớp sụn , một lớp cơ mỏng, trong cùng là lớp niêm mạc.

– Động mạch phổi

Thân ĐM phổi bắt đầu từ lỗ ĐM phổi tâm thất phải, chạy lên trên và ra sau đến bờ sau quai ĐM chủ thì chia thành ĐM phổi (T) và ĐM phổi (P).

ĐM phổi trái : chếch sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái→ chui vào rốn phổi → đi ra ngoài rồi phía sau thân phế quản.

ĐM phổi phải: dài và lớn hơn ĐM phổi T. Đi ngang từ trái→ phải

ĐM và TM phế quản:

Đây là thành phần dinh dưỡng của phổi

Động mạch phế quản được tách ra từ ĐM chủ sau hoặc trước của phế quản chính

Máu động mạch phế quản này là máu giàu oxy, trái ngược với máu giàu CO2 trong động mạch phổi. Nó nuôi dưỡng các mô nâng đỡ của phổi bao gồm mô liên kết, vách và phế quản lớn và nhỏ. Sau máu phế quản và động mạch này đi qua mô nâng đỡ nó đổ vào tĩnh mạch phổi và đi vào tâm nhĩ trái, thay vì đưa vào tâm nhĩ phải. Do đó, lưu lượng chảy vào tâm nhĩ trái và công suất tâm thất trái lớn hơn khoảng 1-2% công suất tâm thất phải.

Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số ít nhanh nhỏ sẽ đổ vào tĩnh mạch phổi.

– Bạch huyết của phổi

Bao gồm nhiều bạch huyết chảy trong nhu mô phổi và đổ vào các hạch bạch huyết phổi ở chỗ chia đôi các phế quản

Các hạch bạch huyết đổ vào các hạch phế quản phổi nằm ở rốn phổi

Đổ vào hạch khí dưới và hạch khí trên

– Thần kinh của phổi

Được tạo bởi các sợi thần kinh giao cảm và các nhánh dây thần kinh lang thang.

Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi

Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang

Màng phổi

Cấu tạo gồm 2 lá: màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa 2 lá màng phổi là hai ổ màng phổi

1. Màng phổi tạng

Mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thùy

ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

2. Màng phổi thành

Phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

+ màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực

+ màng phổi trung thất

+ màng phổi hoành

+ đỉnh màng phổi : phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.