CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ – : MỘT CUỐN SÁCH RẤT KÍCH THÍCH TƯ DUY!

Cô nhân viên cũ của em hiện đang ở Đà Nẵng có 1 tin nhắn thế này: Anh đã đọc “Có 500 năm như thế” chưa? Một cuốn sách “hay kinh hoàng”, và “không hề nhức đầu”. Lý do là, khi bạn này đọc đến đâu thì kiểm chứng với ông nội đến đó; tất cả đều được xác nhận là đúng !

Cố ấy không hay là em đọc rồi và đang nghĩ đến viết review sách này.Nếu nói hiểu thì có lẽ làm cái nghề nghiên cứu liên quan đến lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ thì mới hiểu. Nhưng mà em thích cách đặt vấn đề và phương pháp của bác. Đọc vào rất kích thích tư duy!

Tình cờ dắt mấy cu con đi nhà sách, cho tụi nó đọc sách tại chỗ, em cũng lẩn thẩn cầm vài cuốn lật chơi. Đọc hết phần dẫn nhập của cuốn Có 500 Năm thì em quyết định sẽ mua đem về. Em đọc hết cuốn sách của anh sau 3 ngày; bây giờ quyết định gấp lại cho đầu óc bớt rối để điểm lại các luận điểm cũng như bằng chứng anh đưa ra trước khi sẽ đọc kỹ lại một lần nữa.Và đây là những cảm nhận ban đầu:

1. Tự thách thức luận điểm chung để đẩy vấn đề xa hơn, rồi lại tự thách thức những khám phá ấy để chẻ vấn đề thành những phân mảnh nhỏ. Lộ trình lý giải vấn đề để anh dẫn dắt người đọc đến mô hình da báo của các làng Việt, Chăm rất thú vị. Chưa đủ trình độ để có thể “soi mói” các lập luận và chứng cứ anh đưa ra, bản thân việc bám theo anh trên lộ trình ấy đã là 1 cảm xúc rất kích thích.

Bạn đang xem: Có 500 năm như thế

2. Việc phân tích các bộ gia phả quý để tính toán số năm trung bình của 1 thế hệ mang dáng dấp của phương pháp phân tích định lượng phương Tây. Chỗ này thì em hoàn toàn bất lực, chỉ đọc lướt, nhưng sẽ đọc kỹ lại khi bình tĩnh. Điều thú vị về chỗ mà 1 vài ý kiến review sách của anh, mà em đọc được trên mạng, cho là “táo bạo”, thì em cho là “hứa hẹn” ở chỗ nó mở ra cơ hội 1 ngày nào đó sẽ 1 chuyên gia thống kê giúp anh đào xới lại phần này bằng phương pháp định lượng, để không ai có thể chối cãi được. Ứng dụng thông kê vào nghiên cứu văn hóa – ý tưởng này, tự thân nó đã là 1 công trình nghiên cứu khoa học lớn.

Anh cho em hỏi thêm câu hỏi có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến:Liệu phương pháp này, nếu mở rộng không gian nghiên cứu, có dẫn đưa chúng ta đến những lý giải cho giọng Sài Gòn và miền Tây hay không, nếu chỉ gói gọn phạm vi nghiên cứu trong phương ngữ, chứ chưa kể đến phạm trù rộng hơn là “bản sắc”. Và ngay cả ở Bắc và Bắc Trung bộ cũng vậy, cứ một vài trăm kilomet ta lại có một vùng phương ngữ khác hẳn nhau. Hà Nội – Thanh Hóa – Vinh ! Trong sách của anh đâu đó hình như có gợi mở ra hướng này thì phải ?

Sau mỗi lần lấn đất, hoặc bằng tương quan vũ lực hoặc bằng tương quan hữu nghị, thì dân Việt di cư vào Nam. Ho không đánh đuổi hoặc chiếm đất mà đến nơi người Chàm không ở để định cư, và phần nhiều vẫn ở lại cùng chung sống với dân Việt mới đến. Họ đã ở cạnh nhau suốt 500 như thế ! Các luồng di dân không liên tục mà bị đứt đoạn trong suốt chiều dài 500 năm đó. Mỗi lần đứt đoạn, vì lý do chiến tranh, thời kỳ ngăn sông cấm chợ kéo dài có giai đoạn 60 năm, có giai đoạn 100 năm, có giai đoạn 200 năm. Ngần ấy thời gian đủ để các di dân mới hòa nhập sâu hơn với cộng đồng bản địa, sinh ra các thế hệ lai có đặc điểm riêng về phương ngữ và văn hóa không giống với các lớp di dân mới sau này.

Một khía cạnh khác là mỗi lớp di dân mới chồng lên lớp cũ lại đến từ nhiều nguồn khác nhau: khi là dân cư đồng bằng sông Hồng vào Nam, khi thì dân Thanh – Nghệ. Mỗi lớp / luồng di dân đó lại nhắm đến 1 khu vực địa lý khác biệt, càng về sau càng tiến về phía Nam theo tiến trình lấn đất của người Việt sâu vào địa bàn của Chăm pa.

Ba yếu tố đó:(1). Sự đứt đoạn giữa các luồng di dân,(2). Đặc điểm khác biệt của từng lớp di dân và(3). Sự phân bổ địa bàn định cư của di dân Việt trong suốt tiến trình lịch sử hình thành các vùng phương ngữ khác biệt: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, v.v…

Xem thêm:

Điều quan tâm lớn nhất của Hồ Trung Tú là lý giải:(1). Sự khác biệt của Quảng Nam (nằm trên con đường huyết mạch của các luồng di dân) so với Huế & so với các địa phương sâu về phía Nam như từ Bình Định trở vào,(2). Sự khác biệt phương ngữ ngay tại Quảng Nam, hoặc ngay tại Huế và(3). Sự tương đồng phương ngữ của 1 số làng tại Quảng Nam so với Huế và ngược lại.

Các tài liệu và nghiên cứu trước đó chỉ tóm gọn 1 cuộc giao thoa vài trăm năm giữa Việt và Chăm, gọn đến mức dường như không quan tâm đến các yếu tố hình thành do sự phân kỳ lịch sử mở rộng biên giới Đại Việt về phía Nam, cũng như các sự kiện quan sát được ngay trong ngày hôm nay, vốn là hệ quả để lại của sự phân kỳ đó trong quá khứ. Chỉ riêng với sự phân kỳ này, phân kỳ tác động chứ không phải chỉ là sự phân chia thời gian theo đặc điểm thường thấy, tác giả Hồ Trung Tú đã cung cấp một công cụ quan trọng giúp chúng ta hình dung rõ hơn những gì đã xảy ra ở nơi mà không có bất cứ dòng lịch sử nào được ghi chép.

khoa họcvăn hóalịch sửdân tộc họccội nguồn dân tộclãnh thổChampaChăm Pangười ChàmQuảng Namngười QuảngHồ Trung Tú There were such 500 years: Quảng Nam’s identity from the view of historical periodization

Book Reviews

January 22, 2019 Hồ Trung Tú

Hanoi: Thời Đại Publishing House, 2011

Reviewed by: Pham Thi Thanh Huyen (HYI Visiting Fellow, HYI-NUS Joint Doctoral Scholar Program; Lecturer of Vietnam National University, Hanoi; PhD. Candidate, National University of Singapore)

There were such 500 years is a thought-provoking book in which the author opens new possibilities in using historical periodization to understand cultural exchange between the Chams and the Viet people in characteristics of Quảng Nam. The timeframe of this book is 500 years from the marriage of Princess Huyền Trân of Đại Việt and the Champa king Chế Mân to the enthronement of Gia Long (1306- 1802A.D). These 500 years contain major events with remarkable influence on the history of Cham-Viet cultural exchange and accumulation as well as the identity-building of Quảng Nam.

Using periodization as the essential method, dynastic annals and genealogy records as main sources, Hồ Trung Tú attempts to shed light on the overlooked role of the Cham people and their interactions with the Viet in establishing and nourishing Quảng Nam identity. Using an interdisciplinary approach to examine the cultural history of this province, the author suggests a new view of Nam Tiến (Southward Advance) of Đại Việt; that is, in his opinion, not a smooth and linear process but rather a fluctuating period of ups and downs as well as changes and exchanges between the two main ethnic groups. The author urges the departure from the stereotype of dynastic history, which assumes that the Viet came to a desolated land due mainly to the Cham fleeing it in the wake of political and military conquests. Hồ Trung Tú attempts to convey the complicated cultural exchanges that happened along with the political and demographic changes. In this process, Cham and Viet villages in Quảng Nam were situated in close proximity to one another, thereby laying the foundation for diverse and complex interactions (p10, p110). The author also figures out the role of the period between main events, which was long enough to generate cultural influence and stabilize cultural and linguistic identities such as the construction of Trường Dục rampart and the total separation of two sides of this rampart for 140 years (p.13). In the sixth chapter, the author explains the existence of a “linguistic oasis” in Quảng Nam from the same vantage point. These analyses are extremely valuable because, for the first time, this strange phenomenon was approached and discussed in the historical context and periodization through using logical and inspiring explanations. Similarly, the sharp and convincing analyses related to Barrow’s pictures are astonishing.

To be sure, there are some weak points in the book. In the part regarding language exposure and contact, the author should not ignore the change and evolution of the Cham language itself in the examined period. At some points, his eagerness and enthusiasm pushes some conclusions too far. For example, such statements as “Mỹ Sơn is a heritage from our ancestors, not from a collapsed Champa kingdom” (p.218) proves controversial amongst Champa scholars and historians, as most historical research related to this world heritage and its owner shows the opposite. Yet, despite these limitations, Hồ Trung Tú paints an exquisite picture of cultural accumulation and identity-building of the northern Quảng Nam. He also energetically and insightfully introduces readers to a new path of historical research in this rewarding and easy-to-read book.